靜夜思
床前明月光,
疑是地上霜。
舉頭望明月,
低頭思故鄉。 Đọc tiếp “7.1 | Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (靜夜思) – Lý Bạch”
"Lại que diêm, điếu thuốc, miếng trầu, kéo dài mãi mãi cái phong vị bình dân và mộc mạc của các cô hàng nước, cái tinh hoa thuần túy Việt Nam từ xửa xưa đến giờ."
靜夜思
床前明月光,
疑是地上霜。
舉頭望明月,
低頭思故鄉。 Đọc tiếp “7.1 | Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (靜夜思) – Lý Bạch”
SGK
U tôi đã đi ngủ từ lâu. Nhưng tôi buông bút, nhìn ra bốn bên, chỗ nào cũng thấy bóng u. Cái bóng đen đủi, hoà lẫn với bóng tối, vẽ nên một khuôn mặt trăng trắng với đôi mắt nhỏ, lòng đen nhuộm một màu nâu đồng. Cái bóng mơ hồ yêu dấu ấy đứng bên cạnh lớp lớp những ngày tháng ngậm ngùi đói khổ, những năm này năm khác qua đi trong cơn thấp thỏm đợi chờ dài đặc mang ngấn nước mắt và tiếng thở dài. Người ta, nhiều lúc nhàn, quây quần bên cạnh người thân, nhưng không mấy khi lại tỉ mỉ vẩn vơ mà nhìn ngắm những người yêu mến của ta. Đọc tiếp “7.1 | Cỏ dại (1944) – Tô Hoài”
SGK
Chao ôi, mùa thu biên giới, người và cảnh thật là hết chỗ trữ tình. Trên các triền núi láng giềng, nắng hanh như rây bột nghệ, và đá núi lượn chạy như xô bồ những con sóng đời đời không chịu tan. Nhìn sóng đá các triền núi bạn, thấy như biển cả đang vỗ bờ mà sao tự nhiên phim lại mất hẳn đi cái phần lồng tiếng. Ngồi trên núi cao mùa thu, nhìn ra sóng núi tứ bề, cứ thấy nhớ biển, nghĩ về bờ biển. Lũng Cú cao hơn mặt biển khoảng hai ngàn thước và nằm ở vĩ tuyến 23 độ lẻ 22 phút. Đọc tiếp “7.1 | Mõm Lũng Cú tột Bắc – Nguyễn Tuân”
SGK
Trong các món đồ chơi, tôi say mê nhất là con gà đất: một chú trống đẹp mã, oai vệ, với chiếc kèn lá tơi cài vào ức để tạo ra tiếng gáy. Đến bây giờ, tôi vẫn còn cảm nhận được niềm vui kì diệu ấy tái sinh trong tâm hồn, khi nhớ lại buổi sáng sớm, tôi mang con gà ra đứng trước thềm, ấp nó giữa lòng bàn tay, dồn hơi đầy ngực, ngửa mặt lên trời và gập người dần dần lúc hạ giọng, giống y như dáng điệu con gà lúc gáy. Đọc tiếp “7.1 | Con gà đất của tôi (1996) – Hoàng Phủ Ngọc Tường”
SGK
“Này, Enricô, – cô vừa ra về vừa nói với tôi, – giờ con đã giải được những bài toán khó, đã làm được những bài luận dài rồi, con còn yêu cô giáo của con nữa không?”
Cô hôn tôi, và xuống đến chân cầu thang còn nói to cho tôi nghe: “Đừng quên cô nhé, Enricô ạ!” Đọc tiếp “7.1 | Cô giáo lớp một trên của tôi (1886) – Edmondo De Amicis”
楓橋夜泊
月落烏啼霜滿天,
江楓漁火對愁眠。
姑蘇城外寒山寺,
夜半鐘聲到客船。 Đọc tiếp “7.1 | Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều (楓橋夜泊 )(756) – Trương Kế”
望廬山瀑布
日照香爐生紫煙,
遙看瀑布掛前川。
飛流直下三千尺,
疑是銀河落九天。 Đọc tiếp “7.1 | Xa ngắm thác núi Lư (望廬山瀑布) (725) – Lí Bạch”
Đã bấy lâu nay bác tới nhà.
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây ta với ta.
(Rút từ Quốc văn tùng ký (AB.383), Nam âm thảo (VHv.2381). Tiêu đề bản Quốc văn tùng ký chép là Gặp bạn ngồi chơi suông, bản Nam âm thảo chép là Gặp bạn ngồi suông tình.)
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà, mỏi miệng cái da da.
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
SGK
Trên kia tôi nói rằng Hà Nội đã là một rừng cây sấu mọc thành hàng dãy phố. Cây sấu trông hình thù xấu xí. Cũng như anh Trương Chi người xấu nhưng tiếng hát hay, cây sấu có nhiều đức tính. Hình thù cây sấu rất lẫn với trăm cây khác, nhưng quả sấu chín có một hương ngọt nó thơm một cách khiêm tốn nhưng cũng tự kiêu ngầm. Và ngay từ lúc nó còn là trái xanh non, đem ra làm tương dấm hoặc tan ra trong nước rau muống lúc nắng mới, vị sấu có một hương chua chua cầu kì gớm lên ấy. Đọc tiếp “7.1 | Sấu Hà Nội – Nguyễn Tuân”
SGK
Hàng năm, cứ vào hạ sớm này, người Hà Nội lại được hưởng những cơn mưa lá sấu vàng ào ạt rơi trong hương sấu dìu dịu, thơm thơm.
Hương lá dịu dàng ướp cả bầu ko khí tinh khôi khiến ta như muốn hít thật sâu cho căng tràn lồng ngực. Sau lúc lá rụng là cữ sấu ra hoa. Những mảng hoa hình sao màu trắng sữa chao nghiêng trong gió, đậu xuống tóc các cô gái, lấm tấm khắp cả mặt đường. Đọc tiếp “7.1 | Cây sấu Hà Nội – Tạ Việt Anh”
SGK
Lâu lắm rồi nó mới cởi mở với tôi như vậy. Thực ra, tôi và nó ít khi gặp nhau, tôi đi làm, nó đi học. Buổi chiều, thỉnh thoảng tôi ăn cơm với nó. Buổi tối tôi thường vắng nhà. Nó có một khuôn mặt đợi chờ. Nó hay nhìn tôi bằng cái vẻ mặt đợi chờ đó. Nếu tôi lạnh lùng thì nó lảng đi. Tôi vui vẻ và tỏ ý muốn gần nó, cái vẻ mặt ấy thoắt biến đi thay vào khuôn mặt tràn trề hạnh phúc.
(trích) Đọc tiếp “7.1 | Hậu thiên đường – Nguyễn Thị Thu Huệ”
餅㵢
身㛪辰𤽸分㛪𧷺
𠤩浽𠀧沉買渃𡽫
硍湼默油𢬣几揑
𦓡㛪刎𡨹𬌓𢚸𣘈 Đọc tiếp “7.1 | Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương”
Chinh phụ ngâm khúc (征婦吟曲)
2. 出征
渭橋頭清水溝
清水邊青草途
送君處兮心悠悠
君登途兮妾恨不如駒
君臨流兮妾恨不如舟 Đọc tiếp “7.1 | Sau phút chia ly (1741) – Đặng Trần Côn”
SGK
Thông thường người đi xa trở lại quê nhà hay kể với bà con láng giềng chuyện lạ phương xa. Riêng tôi về làng, về xứ, lúc nào cũng thích nói cái đẹp, cái lớn quê mình. Có lẽ vì tôi yêu quê hương thắm thiết, yêu đến độ đam mê như một kẻ si tình yêu cả cái dở của người yêu. Đọc tiếp “7.1 | Đất quê hương (1979) – Mai Văn Tạo”